Thằng bạn tôi xăm quỷ trả thù cho bồ

Chương 17 Phiên chợ Âm Phủ

2.165 chữ · khoảng 11 phút đọc · Nguyễn Mỹ Hạnh

Nhìn bên ngoài chợ Âm Phủ chẳng khác gì một phiên chợ quê họp muộn nhưng càng đi sâu vào trong, tôi càng gặp những chuyện không sao giải thích được: người lạ gọi đúng tên mình, tiếng trẻ con cười khúc khích, rồi tôi còn gặp lại một người vốn đang ở Hà Nội nhưng lại xuất hiện giữa phiên chợ ở tận Bắc Ninh. Khi ấy tôi chưa hiểu những chuyện đó có ý nghĩa gì, chỉ biết rằng từ lúc bước vào chợ mọi thứ đã không còn giống như lúc ban đầu nữa.

Khoảng gần sáu giờ tối, chúng tôi mới tới nơi. Chợ Âm Phủ không giống như những gì tôi tưởng tượng, nếu chỉ nhìn từ ngoài vào, chẳng ai nghĩ đây là một nơi có gì đặc biệt. Con đường đất dẫn vào chợ khá rộng, hai bên có mấy quán nước dựng tạm bằng tre và vài chiếc xe đạp, xe máy dựng sát nhau. Người đi lại cũng không ít, có người xách túi lớn túi bé, có người gánh hàng, mấy bà mấy cô ngồi bên những chiếc mẹt thấp bày biện đủ thứ đồ. Trong chợ chẳng có đèn đường, người ta chỉ mắc tạm vài bóng đèn trên những sợi dây kéo dọc theo con đường. Ánh sáng vàng vọt hắt xuống những sạp hàng, chỗ sáng chỗ tối, càng đi sâu vào trong càng thấy những khoảng tối hai bên đường dày hơn. Tôi xuống xe, nhìn vào trong rồi hỏi:

– Đây là chợ Âm Phủ à bác?

Ông Cẩn gật đầu.

– Ừ.

Tôi nhìn đồng hồ, sáu giờ mười phút, lúc này trời đã tối hẳn. Nếu không biết trước nơi này là chợ Âm Phủ, có lẽ tôi cũng chỉ nghĩ đây là một phiên chợ quê họp muộn. Có người bán bánh, bán xôi, có hàng nước, có người bày quần áo cũ, đồ gia dụng và những món đồ lặt vặt. Tiếng người nói chuyện vọng ra từ bên trong, thỉnh thoảng còn có tiếng cười đùa rả rích của các bà các cô. Nam dựng xe, khóa cổ cẩn thận rồi hỏi:

– Mình vào luôn hả bác?

– Ừ.

Ông Cẩn nhìn hai đứa.

– Nhưng nhớ lời tôi dặn lúc nãy.

Tôi biết ông đang nói đến chuyện không được tự ý hỏi han, không được tùy tiện động chạm linh tinh nên vội gật đầu. Ba chúng tôi đi bộ vào trong. Lúc đầu tôi còn thấy khá bình thường nhưng đi được chừng vài chục mét, tôi bắt đầu nhận ra có gì đó không ổn. Càng vào sâu những người đi trong chợ không nói chuyện với nhau nhiều như lúc ở ngoài nữa. Có những người đi ngang qua nhau nhưng chẳng ai nhìn ai, mấy người bán hàng cũng không gọi khách hay chào hàng, họ chỉ ngồi sau những chiếc bàn thấp, trước mặt bày đủ thứ đồ cũ. Có người đàn bà ngồi bán quần áo cũ, bên cạnh là một ông già bày những chiếc đồng hồ đã cũ kỹ, sạp khác lại chất đầy lược, vòng tay, trâm cài tóc, thậm chí có cả những đôi dép, chiếc túi và quần áo trẻ con đã bạc màu. Tôi ghé sát Nam, khẽ thì thầm:

– Mày có thấy cái chợ này lạ lắm không?

Nam chưa kịp trả lời thì một giọng nói phía bên phải bỗng vang lên:

– Cậu Bách.

Tôi giật mình quay lại, một bà cụ đang ngồi bên chiếc bàn thấp nhìn tôi. Bà khoảng hơn sáu mươi tuổi, tóc bạc gần hết, trên bàn chỉ có một cái lược gỗ và mấy chiếc vòng cũ. Tôi nhìn bà vài giây, tôi chưa từng gặp bà nhưng bà lai vừa gọi đúng tên tôi. Tôi hỏi:

– Bà gọi cháu à?

Bà không trả lời, chỉ nhìn tôi rồi cúi xuống sắp xếp mấy món đồ trước mặt. Nam đứng bên cạnh cũng quay sang nhìn tôi, thắc mắc hỏi:

– Bà ấy biết tên mày à?

– Tao không biết.

Tôi còn chưa hiểu chuyện gì thì từ phía trước lại vang lên một giọng khác:

– Nam.

Lần này là một người đàn ông, Nam lập tức quay đầu, một ông già ngồi bên gian hàng bên đường đang nhìn nó.

– Cậu Nam.

Nam đứng khựng lại.

– Ông biết cháu?

Ông già không trả lời, ông chỉ cúi xuống, tiếp tục lau một chiếc đồng hồ cũ. Tôi nhìn sang ông Cẩn, sắc mặt ông đã thay đổi. Ông kéo hai đứa chúng tôi bước nhanh hơn về phía trước, đi được một quãng khá xa, Nam mới hỏi:

– Sao họ biết tên cháu thế bác?

– Đừng hỏi.

– Nhưng bác biết chuyện gì đúng không?

Ông Cẩn im lặng thêm vài bước rồi mới đáp:

– Ở đây âm khí nặng lắm, người trong chợ có thể nhìn thấy những thứ mà người bình thường không nhìn thấy.

Nam càng khó hiểu, nhăn mặt nói:

– Là sao ạ?

Ông Cẩn giảm bước, đợi hai đứa đi ngang rồi mới nói nhỏ:

– Họ nhìn cả thứ đi theo mình nữa.

Tôi nghe vậy thì thấy sống lưng lạnh đi.

– Thứ đi theo bọn cháu?

Nam cũng bồi thêm vào một câu:

– Nhưng sao họ lại biết tên bọn cháu mà gọi đúng thế bác?

Ông Cẩn nhìn nó, đôi mắt ông đã tối hẳn đi:

– Vì tên của hai cậu đã được nhắc đến ở đây trước khi hai cậu tới.

Tôi giật mình:

– Ai nhắc?

Ông Cẩn không trả lời ngay. Ông chỉ nhìn về phía những gian hàng phía sau, nơi ánh đèn dầu vẫn lập lòe giữa những bóng người ngồi im. Một lúc sau ông mới nói:

– Tôi chưa biết.

Ông dừng lại một chút rồi nói tiếp:

– Nhưng từ giờ trở đi hai cậu đừng nghe ai gọi tên mình mà quay lại.

– Quay lại thì sao hả bác?

Ông Cẩn chỉ lên vai Nam, giọng ông hơi nhỏ nhưng vẫn đủ để hai đứa chúng tôi nghe rõ:

– Người ta vẫn bảo mỗi người sống đều có ba ngọn đèn để giữ dương khí, một trên đỉnh đầu và hai ngọn còn lại nằm ở hai bả vai. Vào những chỗ như thế này, ngọn đèn ấy đã yếu hơn bình thường. Nếu quay đầu quá nhanh, nhất là khi có thứ gì đó gọi mình từ phía sau, nó có thể làm hai ngọn đèn trên vai tắt đi.

Tôi nghe mà thấy lạnh cả người.

– Tắt thì sao bác?

Ông Cẩn đáp rất bình thản:

– Ngọn đèn ấy như vật giữ nhà vậy, các cậu thử nghĩ một ngôi nhà không có người trông, thứ gì cũng có thể ra vào bừa bãi thì sẽ thế nào?

Nam im lặng, ông Cẩn nhìn cả hai chúng tôi rồi nói thêm:

– Cho nên từ giờ, có ai gọi tên cũng cứ đi thẳng. Đừng quay lại, đừng trả lời. Ra khỏi chợ rồi muốn hỏi gì thì hỏi.

Tôi nghe xong chẳng biết nói gì nữa. Tôi gật đầu nhưng trong lòng không còn thấy thoải mái như lúc mới bước vào nữa. Tôi cứ có cảm giác phía sau mình lúc nào cũng có người đi theo. Có đôi lần tôi nghe tiếng bước chân rất nhẹ trên nền đất, lúc gần lúc xa nhưng mỗi lần định quay lại thì lại nhớ lời ông Cẩn. Tôi đành mặc kệ, chỉ có điều càng đi, tiếng bước chân ấy càng rõ.

Chúng tôi càng đi sâu, ánh đèn càng thưa. Tiếng nói chuyện phía sau cũng nhỏ dần. Những gian hàng hai bên bắt đầu ít đi, thay vào đó là những chiếc bàn thấp đặt dưới những mái bạt cũ. Tôi ghé mắt nhìn sang bên phải, một người bán hàng đang ngồi xổm trước sạp, trên tay là một chiếc áo trẻ con đã cũ. Bà ta cầm chiếc áo lên xem một lượt rồi đặt xuống ngay dưới ngọn đèn dầu. Đứng trước sạp là một người phụ nữ chừng hơn bốn mươi tuổi, hai mắt bà đỏ hoe, khuôn mặt hốc hác như đã khóc từ lâu. Bà không nói gì, chỉ đứng nhìn người bán chuẩn bị đốt chiếc áo. Người bán lấy một ít giấy vàng mã đặt xuống đất rồi châm lửa. Ngọn lửa bén vào giấy trước rồi mới ăn dần lên chiếc áo. Mùi vải cháy khét lẹt trộn với mùi giấy tiền khiến tôi phải quay mặt đi.

Đúng lúc ấy từ đâu đó vang lên tiếng trẻ con cười khúc khích. Tôi giật mình nhìn quanh, không có đứa trẻ nào cả. Người phụ nữ trước sạp vẫn nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, nước mắt chảy xuống hai bên má, bà đưa tay lau đi rồi nghẹn giọng:

– Con ơi...

Bà im lặng một lúc, sau đó nói như đang dặn dò đứa con của mình:

– Dưới đó có gì thì nhớ về báo mộng cho mẹ nhé. Con thiếu gì cứ nói, mẹ biết rồi mẹ gửi thêm xuống cho con.

Người bán hàng ngồi bên cạnh không nói gì mà chỉ chờ chiếc áo cháy hết. Khi ngọn lửa chỉ còn lại một đống tro nhỏ, bà ta dùng que gạt phần tro sang một bên rồi chìa tay ra. Người phụ nữ lấy tiền trong túi áo, đếm đủ rồi đặt vào lòng bàn tay người bán.

– Cảm ơn bà.

Người bán nhận tiền, gật đầu xong không nói thêm câu nào nữa. Tôi nhìn xuống đống tro dưới đất, không hiểu sao thấy rợn cả người. Bởi ngay sau khi người phụ nữ quay đi, tiếng trẻ con lại vang lên phía sau sạp. Lần này tôi nghe rất rõ nhưng nhìn quanh một lượt vẫn không thấy bất kỳ đứa trẻ nào. Dù rất thắc mắc nhưng tôi không dám hỏi nhiều mà cố lời đi, tiếp tục theo ông Cẩn đi về phía trước.

Đi thêm một đoạn, tôi bỗng ngửi thấy mùi xôi nóng. Tôi quay sang bên đường thì thấy một chiếc thúng xôi đặt dưới ngọn đèn dầu. Bên cạnh là một bà lão nhỏ thó, trên đầu quấn chiếc khăn nâu, đang ngồi lau từng tấm lá chuối. Chỉ nhìn dáng người ấy, tôi đã nhận ra bà, chính là bà lão bán xôi tôi từng gặp ở Hà Nội. Tôi vẫn nhớ dáng bà ngồi bên thúng xôi, đôi tay thoăn thoắt lau lá rồi xếp từng gói xôi ngay ngắn.

Tôi kéo tay Nam lại, nói với nó:

– Đợi chút.

Nam quay lại:

– Gì thế?

Tôi chỉ về phía bà lão.

– Bà kia là bà bán xôi hôm trước tao kể với mày đấy.

Nam nhìn theo hướng tôi chỉ, nhíu mày hỏi:

– Bà nào?

– Cái bà mà hôm trước tao mua xôi ấy. Bà ngồi ngay đầu ngõ, nhớ không? Tao có kể cho mày rồi.

– À tao nhớ rồi, cái bà bán xôi hỏng cho mày phải không?

Tôi gật đầu, không nói nữa mà chỉ nhìn bà lão. Bà vẫn ngồi yên bên chiếc thúng, chậm rãi lau lá chuối, vẻ mặt bình thản như thể đây chỉ là một phiên chợ bình thường nhưng có một chuyện khiến tôi thấy khó hiểu, tôi nói ra nghi vấn của mình.

– Bà ấy ở Hà Nội mà nhỉ?

Nam quay sang nhìn tôi:

– Sao?

– Hôm trước tao còn mua xôi của bà ở Hà Nội vậy mà hôm nay bà ấy lại ở tận Bắc Ninh.

Nam nhìn về phía chiếc thúng xôi lần nữa.

– Có khi bà ấy xuống đây bán hàng?

– Nhưng sao lại đúng hôm nay?

Nam không trả lời, tôi cũng không biết phải nói gì thêm. Chỉ là từ lúc nhìn thấy bà ở đây, trong lòng tôi cứ có một cảm giác rất khó chịu. Một bà bán xôi ở Hà Nội chẳng hiểu bằng cách nào lại xuất hiện giữa phiên chợ ở Bắc Ninh vào đúng đêm rằm. Tôi định bước lại gần hỏi bà xem có phải mình nhận nhầm người không nhưng vừa bước được một bước, ông Cẩn đã lên tiếng phía sau:

– Bách.

Tôi quay lại, ông Cẩn nhìn chằm chằm vào tôi, lắc đầu nói:

– Đi tiếp.

– Nhưng cháu quen bà ấy, hôm trước bà ấy bán xôi hỏng cho cháu, cháu muốn hỏi một số chuyện.

Ông Cẩn nhìn về phía bà lão rồi lại nhìn tôi.

– Quen cũng không được đứng lại.

Giọng ông rất bình thường nhưng dứt khoát đến mức tôi không dám cãi. Tôi quay đầu nhìn bà lão lần cuối. Đúng lúc ấy, bà cũng ngẩng lên, ánh mắt hai chúng tôi chạm nhau. Bà không nói gì, chỉ nhìn tôi một lúc rồi cúi xuống tiếp tục lau lá. Tôi đi theo Nam và ông Cẩn nhưng trong đầu vẫn không ngừng nghĩ đến bà. Càng lúc tôi càng thấy phiên chợ này thật quái lạ.

Có thể bạn thích

Gợi ý cho bạn đọc

Một số liên kết là tiếp thị liên kết. Emma kể chuyện có thể nhận hoa hồng khi bạn mua hàng, giá không thay đổi.