Chương 18 Người quen giữa chợ âm
Trước đêm hôm ấy, tôi vẫn nghĩ người chết rồi thì chỉ còn có thể gặp lại trong ảnh hoặc trong những giấc mơ. Ông Tư hàng xóm nhà tôi mất đã gần chục năm, đến căn nhà ngày trước của ông cũng đã bán cho người khác từ lâu. Thế mà tối hôm đó giữa phiên chợ Âm Phủ tôi lại gặp được ông. Không phải nhìn thấy một cái bóng hay thứ gì mờ mờ giống người như trong mấy câu chuyện ma tôi từng nghe mà ông ngồi ngay bên đường, trước mặt vẫn là mấy chiếc đồng hồ cũ, trông chẳng khác gì hồi còn sống. Đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rất rõ cảm giác lúc ấy. Bởi chính từ cuộc gặp đó tôi mới bắt đầu hiểu những người đang ngồi bán hàng trong phiên chợ này có lẽ không phải ai cũng còn sống.
Tôi đi giữa Nam và ông Cẩn, trong lòng cứ thấy không yên. Mấy người hai bên đường đều cúi mặt hoặc làm việc của mình, chẳng ai nhìn chúng tôi cả, nhưng tôi vẫn có cảm giác ánh mắt của họ đang dõi theo từ đâu đó. Đi được một lúc, tôi bắt đầu để ý đến những khuôn mặt ấy. Một ông già ngồi sửa đồng hồ bên đường khiến tôi khựng lại, tôi nhận ra ông ngay. Đó là ông Tư, người từng sống ngay sát nhà tôi hồi nhỏ. Hồi ấy nhà ông chỉ cách nhà tôi một bức tường thấp. Chiều nào đi học về tôi cũng thấy ông ngồi trước hiên, cúi sát xuống mấy chiếc đồng hồ, tay thoăn thoắt tháo từng con ốc nhỏ, trước mặt là cái hộp gỗ đựng đủ loại đồng hồ và dụng cụ sửa chữa. Ông có thói quen cúi sát mặt xuống mỗi khi sửa đồ, vừa làm vừa lẩm bẩm một mình.
Chỉ cần nhìn cách ông cúi xuống sửa chiếc đồng hồ tôi đã nhận ra ngay, đó chính là kiểu ngồi của ông Tư hồi còn sống. Tôi đứng nhìn ông vài giây rồi chợt nghĩ ông Tư chết chục năm nay rồi, sao lại có thể ngồi ở đây được? Tôi vẫn còn nhớ ngày ông Tư mất, khi ấy tôi cũng đủ lớn để hiểu cái chết là gì. Sau đám tang căn nhà sát bên nhà tôi đóng cửa suốt một thời gian dài rồi được người khác mua lại. Vậy mà bây giờ ông lại đang ngồi trước mặt tôi, vẫn ngồi sửa đồng hồ như ngày còn sống, chân thực đến mức tôi không biết mình đang nhìn nhầm hay thực sự gặp lại ông.
Tôi đứng thêm vài giây rồi mới chợt nhớ ra một chuyện, đây là chợ Âm Phủ, một nơi mà từ lúc bước chân vào đến giờ tôi đã gặp quá nhiều chuyện chẳng thể giải thích nổi. Nghĩ vậy nhưng tận mắt nhìn thấy một người đã chết gần chục năm ngồi ngay trước mặt vẫn là chuyện hoàn toàn khác. Tôi cứ đứng ngây ra nhìn ông Tư, trong đầu hết nghĩ mình nhận nhầm người lại tự hỏi có khi nào người đang ngồi trước mặt chỉ là một người nào đó quá giống ông. Nhưng càng nhìn tôi càng thấy không thể nhầm được, từ cái dáng cúi sát xuống mặt bàn cho đến cách ông cầm chiếc đồng hồ trong tay đều giống hệt ngày trước.
Tôi chợt nhớ đến câu các cụ vẫn hay nói “Trần sao âm vậy”, lúc sống làm nghề gì, chết đi có khi vẫn làm nghề ấy. Người bán hàng vẫn bán hàng, người làm ruộng vẫn làm ruộng, ông Tư cả đời sửa đồng hồ thì xuống dưới đó cũng vẫn ngồi sửa đồng hồ. Tôi đang đứng nhìn thì ông Tư bỗng ngẩng đầu lên, hai mắt ông nhìn thẳng về phía tôi. Tôi giật mình, cứ nghĩ ông sẽ hỏi gì đó nhưng ông đã nhận ra tôi, ông vẫy tay cười nói:
– Thằng Tây đấy à?
Tôi đứng sững, đã lâu lắm rồi không ai gọi tôi như vậy. Hồi nhỏ tôi vừa gầy vừa đen, chỉ có lớp da bọc xương, người làng cứ trêu tôi là Tây, bảo trông chẳng khác gì mấy ông Tây ba lô. Cái tên ấy chẳng có gì hay ho nhưng hồi bé tôi nghe mãi cũng thành quen. Lớn lên, bạn bè ở trường gọi tên thật, người ngoài cũng chẳng ai biết tôi từng có cái biệt danh ấy. Vậy mà ông Tư vừa nhìn một cái đã gọi đúng cái tên mà tôi tưởng mình đã quên từ lâu. Tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại, giọng tôi vang lên có phần rưng rưng:
– Ông Tư…
Ông vẫn cười, đưa tay vẫy tôi lại gần.
– Lại đây ông xem nào, lâu lắm rồi không gặp thằng Tây.
Tôi bước tới, mắt tự nhiên cay xè. Nghe đúng giọng ông gọi, nhìn cái dáng ông ngồi sửa đồng hồ, tôi bỗng nhớ lại những buổi chiều hồi nhỏ ấy, khi tôi còn là đứa trẻ vô tư vô lo, chiều nào đi học về cũng chạy sang nhà ông Tư chơi, lúc thì ngồi xem ông sửa đồng hồ, lúc lại chạy theo mấy đứa trẻ trong xóm ngoài sân. Hồi ấy quanh tôi có rất nhiều người quen. Nhà nào trong xóm tôi cũng biết, đi ra đầu ngõ là gặp người gọi tên mình, có khi chỉ cần đứng ngoài cổng đã có người hỏi hôm nay thằng Tây có cầm đầu tụi nhỏ đi phá làng phá xóm nữa không. Vậy mà lớn lên những người ấy cứ lần lượt mất đi. Ông Tư mất, rồi đến những người già trong xóm, cả ông bà nội ngoại của tôi cũng chẳng còn ai. Đến lúc này tôi mới nhận ra, những người từng có mặt trong tuổi thơ của mình, càng lớn lên lại càng ít đi. Dù biết sinh lão bệnh tử là quy luật của cuộc đời nhưng đáy lòng tôi có cảm giác đau lắm.
Tôi đứng trước sạp, không biết phải nói gì, cuối cùng chỉ hỏi được ông một câu:
– Ông vẫn nhớ cháu à?
Ông Tư bật cười.
– Thằng Tây, cháu trai ông Kim, sao ông lại không nhớ cho được.
Nghe câu ấy, tôi bỗng thấy trong lòng nghèn nghẹn, phải mất một lúc mới nói được.
– Dạ, cháu đây.
Ông Tư đặt chiếc đồng hồ đang sửa xuống bàn, lau hai tay vào vạt áo rồi nhìn tôi cười.
– Lớn thế này rồi.
Tôi cũng cười theo, mắt càng lúc càng đỏ lại.
– Ông... vẫn sửa đồng hồ sao ạ?
– Nghề của ông mà, không sửa thì biết làm gì?
Câu nói nghe bình thường đến mức tôi quên mất ông đã chết từ mười năm trước. Ông Tư nhìn tôi thêm một lúc rồi bỗng hỏi:
– Mày đi tìm ông nội à?
Tôi sững người.
– Ông nội cháu cũng ở đây ạ?
Ông Tư không trả lời ngay, ng cúi xuống chỉnh lại chiếc đồng hồ trước mặt rồi mới nói:
– Ôi cái lão ấy khỏe lắm.
Tôi bật cười vì câu nói ấy.
– Người chết rồi mà ông còn bảo khỏe?
Ông Tư cũng cười.
– Xuống đây rồi thì vẫn thế thôi. Xíu nữa biết đâu mày gặp được ông ấy.
Tôi đứng im, lắp bắp hỏi lại:
– Thật hả ông?
– Thôi đi đi, ông còn có việc, không nói với mày lâu quá được.
Tôi chưa kịp hỏi thêm thì ông Tư đã quay lại với chiếc đồng hồ trên bàn. Ông cầm chiếc tua vít lên, cúi xuống tiếp tục sửa như thể cuộc nói chuyện vừa rồi chẳng có gì đặc biệt. Tôi đứng đó thêm vài giây, ông Tư bỗng ngẩng lên, nhìn tôi rồi vẫy tay như ngày trước mỗi lần thấy tôi đi học về.
– Đi đi.
Tôi cũng giơ tay lên chào ông.
– Cháu đi ông nhé.
Ông Tư cười, tôi nén những cảm xúc đang trào dâng trong lòng mà quay người bước đi. Đi được vài bước, tôi vẫn không nhịn được mà ngoái lại nhìn. Ông Tư vẫn ngồi đó, chỉ có điều lần này, dưới ánh đèn dầu, tôi không còn thấy rõ khuôn mặt ông nữa. Từ lúc vào chợ đến giờ xảy ra quá nhiều chuyện, đầu óc tôi lúc ấy chẳng còn tỉnh táo như bình thường nữa. Tôi định quay sang kể cho Nam nghe thì chợt nhận ra nó đã đi cách tôi một đoạn. Tôi bước nhanh chân , gọi với lên:
– Nam.
Nó không quay lại, tôi gọi lớn hơn:
– Nam!
Vẫn không có tiếng trả lời, tôi chạy đuổi theo thật nhanh nhưng càng chạy tôi càng thấy Nam và ông Cẩn cách xa hơn. Rõ ràng lúc nãy Nam chỉ cách tôi vài bước vậy mà chẳng hiểu từ lúc nào khoảng cách ấy đã thành cả một đoạn đường.
– Nam!
Tôi gọi lớn lần nữa nhưng phía trước vẫn không có tiếng trả lời, tôi chạy vội theo. Lúc đầu tôi vẫn nghĩ Nam không nghe thấy vì trong chợ đông người. Nhưng chạy thêm một đoạn tôi bắt đầu thấy có gì đó không đúng. Những sạp hàng hai bên đường thưa dần, ánh đèn cũng ít đi. Con đường dưới chân từ khi nào đã là một lối đất nhỏ, hai bên mọc đầy cỏ dại.
– Nam! Bác Cẩn!
Không ai đáp, cũng không có tiếng trả lời. Tôi bước chậm lại, một luồng gió lạnh từ phía trước thổi tới đem theo chút hơi ẩm và tiếng nước rào rào. Tôi tự hỏi sao giữa chợ lại có tiếng nước chảy, có lẽ chợ được họp gần một con sông. Càng đi, mùi bùn đất càng rõ, không khí cũng lạnh hơn. Tôi kéo cổ áo lên, vừa đi vừa nhìn quanh.
Đúng lúc ấy phía trước xuất hiện một người. Là một người phụ nữ, cô ta mặc một chiếc áo nâu cũ, tóc dài xõa xuống lưng. Tôi vội gọi:
– Chị ơi!
Người phụ nữ dừng chân, cô ta không quay đầu. Tôi bước thêm vài bước, hỏi:
– Em đi lạc mất, chị biết đường ra lại chợ không?
Cô ta vẫn đứng im. Một lúc sau, giọng cô ta mới vang lên, khàn đặc, nghe cứ như cổ họng còn đầy nước, từng tiếng phát ra rất khó nhọc.
– Đi theo tôi.
Tôi nhìn về phía sau một lần nữa, vẫn không thấy Nam hay ông Cẩn. Tôi nghĩ có lẽ người phụ nữ này là người bán hàng trong chợ, biết đường nên mới cố nhờ cô ta giúp:
– Chị dẫn em ra chỗ đông người được không? Em bị lạc mất bạn.
Cô ta không trả lời, chỉ tiếp tục đi. Tôi đành bước theo. Đi được một đoạn, tôi bắt đầu thấy không đúng. Đây không phải con đường tôi đã đi qua khi nãy. Lúc vào chợ, hai bên đường toàn là hàng quán, càng đi sâu thì những sạp hàng càng nhiều. Vậy mà bây giờ trước mặt tôi chẳng còn lấy một người. Hai bên chỉ còn những bụi chuối mọc sát mép đường, tàu lá dài đung đưa trong gió, thỉnh thoảng quệt vào nhau phát ra tiếng xào xạc, phía trước là tiếng nước chảy nghe mỗi lúc một rõ. Tôi vội hỏi:
– Chị ơi, chị có lầm đường không thế?
Cô ta vẫn không trả lời. Tôi bước chậm lại, không hiểu sao càng đến gần, tôi càng thấy người phụ nữ ấy có gì đó rất lạ. Tôi nhìn xuống gấu quần cô ta, ống quần ướt sũng một mảng, nước còn nhỏ tong tong từng giọt nhưng chân cô ta lại sạch sẽ như chưa từng bước qua đoạn đường đầy bùn đất.
Tôi bắt đầu thấy sợ, dừng lại gọi:
– Chị ơi, hay thôi em tự về được.
Tôi định quay lại thì đúng lúc ấy một cơn gió thổi qua. Ngọn đèn dầu phía sau lưng tôi chập chờn, ánh sáng đổ xuống mặt đất. Tôi nhìn thấy bóng mình rất rõ vậy mà khi nhìn sang người phụ nữ lại không có bóng. Người phụ nữ phía trước cũng đột ngột dừng lại. Một lúc sau cô ta mới từ từ quay đầu nhìn tôi. Tóc cô ta trượt sang một bên, để lộ khuôn mặt trắng bệch, hai mắt đỏ ngầu, nhìn thẳng vào tôi, hỏi:
– Sao không đi tiếp?
Tôi lắc đầu.
– Em, em phải quay lại tìm bạn.
Cô ta vẫn nhìn tôi.
– Bạn anh không ở phía đó.
Tôi sững người.
– Chị biết họ ở đâu?
Cô ta không trả lời câu hỏi, chỉ đưa tay chỉ về phía trước. Tôi nhìn theo hướng ấy, lúc này mới nhận ra cuối con đường là một con sông. Mặt nước đen ngòm, nằm im dưới màn đêm, thỉnh thoảng mới gợn lên vài vòng sóng nhỏ.
– Đi xuống dưới với tôi.
Tôi lùi thêm một bước.
– Tôi không xuống đó.
Cô ta cười.
– Xuống đi.
Giọng cô ta vẫn nhỏ nhưng nghe rõ từng chữ.
– Tôi đưa anh đi gặp người quen.
Tôi nhìn cô ta, không hiểu sao câu ấy khiến tôi lạnh cả người. Tôi nhớ đến ông Tư, nhớ đến lời ông vừa nói “Xíu nữa biết đâu mày gặp được ông ấy” nhưng tôi vẫn lắc đầu thật mạnh.
– Tôi không đi.
Tôi quay người định chạy nhưng vừa bước được một bước, chân tôi đã trượt xuống lớp bùn bên mép sông. Cả người mất thăng bằng, tôi ngã quỵ xuống. Chân trái tôi lập tức chìm xuống nước. Nước lạnh buốt tràn qua ống quần, tôi hoảng hốt bám lấy một bụi cỏ.
– Thả tôi ra.
Nhưng tôi chưa kịp đứng dậy thì người phụ nữ đã lao nhanh tới, hai bàn tay lạnh ngắt chụp lấy vai tôi. Tôi giật mạnh người quát lớn:
– Buông tôi ra!
Cô ta không trả lời mà chỉ kéo. Tôi cố bám vào bụi cỏ nhưng bùn nhão quá, bàn tay vừa nắm đã tuột. Cả người tôi trượt xuống thêm một đoạn, nước đã ngập đến đầu gối. Tôi cố vùng ra, bình thường sức tôi không yếu vậy mà lúc ấy chẳng hiểu sao tay chân cứ như bị ghì chặt xuống. Con ma ấy khỏe một cách khó tin, tôi dùng hết sức vẫn không tài nào thoát được.
– Buông ra!
Lần này tôi nhìn rõ mặt cô ta, da trắng bệch, tóc ướt nhèm dính chặt vào hai bên má. Từ cổ xuống vai nước vẫn nhỏ tong tong như thể cô ta vừa bước lên từ dưới sông. Đôi mắt đỏ ngầu nhìn thẳng vào tôi, cô ta nghiến răng hét lên:
– Tôi chết dưới này lâu rồi...
Tôi hoảng loạn hỏi:
– Cô muốn gì?
Cô ta ghé sát mặt tôi, mùi bùn đất và mùi nước tanh phả vào mặt khiến tôi khó chịu vô cùng.
– Phải có người xuống thay tôi... tôi mới đi được.
Bàn tay cô ta siết mỗi lúc một mạnh hơn.
– Anh hợp vía với tôi.
Tôi chẳng hiểu “hợp vía” là thế nào, tôi chỉ biết nếu cứ thế này mình sẽ bị kéo xuống nước. Tôi cố đạp chân vào bờ, lớn giọng kêu lên mong có ai đó nghe thấy.
– Cứu tôi!
Người phụ nữ càng kéo mạnh, nước đã ngập tới ngang lưng tôi, tôi bám được vào một rễ cây nhô lên khỏi mặt đất, hai tay siết chặt đến đau buốt nhưng cô ta không chịu buông. Tôi bắt đầu hoảng loạn thực sự, tôi quay đầu nhìn về phía con đường. Những ngọn đèn dầu ở phía xa chỉ còn là những chấm sáng nhỏ, không thấy Nam cũng không thấy ông Cẩn.
– Nam, bác Cẩn, cứu!
Tiếng hét vang lên rồi tắt giữa màn đêm, không ai trả lời tôi, chỉ có tiếng nước vỗ vào bờ. Bàn tay người phụ nữ lại kéo mạnh một lần nữa, tôi cảm giác cả người mình sắp tuột khỏi bờ. Nước đã lên đến ngang cổ, tôi cố ngẩng đầu thở. Người phụ nữ bỗng cười, cô ta ghé sát tai tôi thì thào:
– Đừng sợ, xuống dưới rồi sẽ không cô đơn nữa.
Tôi cố hét lên nhưng lần này cổ họng tôi chỉ bật ra được một tiếng khàn khàn. Cả người tôi trượt khỏi bờ, nước lạnh lập tức dâng phủ cả đầu tôi. Tôi tuyệt vọng đưa tay bám lấy rễ cây lần cuối nhưng những ngón tay đã bắt đầu trượt. Tôi nhìn lên bờ, ánh đèn dầu xa dần, mọi thứ trước mắt bắt đầu nhòe đi. Bàn tay tôi trượt khỏi rễ cây, tôi cố bám lại lần cuối nhưng những ngón tay đã mất hết sức. Nước lạnh lập tức phủ qua đầu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chỉ kịp nghĩ một điều, lần này mình chết thật rồi.
Mở khóa để đọc tiếp
Emma kể chuyện miễn phí nhờ nhà tài trợ. Bạn chọn một cách bên dưới để mở khóa chương này nhé.
Mở khóa có hiệu lực 24 giờ trên thiết bị này.

