Chương 5 Đừng đáp tiếng gọi thứ nhất
Ở quê tôi, người già có một điều kiêng lạ lắm. Đêm khuya nghe ai gọi tên mình cũng phải đợi tiếng thứ ba mới được đáp cho chắc. Họ bảo có những tiếng gọi chỉ cần lỡ đáp một lần là người âm sẽ nhớ mặt, nhớ tên, nhớ cả đường về nhà mình. Hồi nhỏ nghe thế tôi chỉ cười, bụng nghĩ chắc mấy cụ bày chuyện để dọa trẻ con đừng lang thang ban đêm. Mãi đến đêm ấy tôi mới hiểu có những tiếng gọi, chỉ cần lỡ đáp lại một lần là cả đời cũng không cắt nổi!
– Nó... đã nghe thấy rồi.
Giọng ông Cẩn nhỏ đến mức gần như tan vào khoảng tối. Không ai nói thêm câu nào, cả căn phòng chìm trong một bầu không khí nặng nề đến khó thở. Chiếc gương đồng vẫn đặt úp trên bàn, vết nứt vừa xuất hiện lúc nãy dường như càng rõ ràng hơn.
"Rắc..."
Một tiếng kêu rất nhỏ vang lên, nhưng trong căn phòng yên lặng ấy nó nghe rõ đến gai người. Nam vẫn đứng bất động, hai mắt nó đỏ hoe, giống như vừa nghe thấy người mình yêu gọi thật, miệng nó lẩm bẩm:
– Là Hương, tao nghe đúng giọng Hương.
Ông Cẩn bỗng quát:
– Im!
Nam giật mình, ông già chống hai tay lên bàn, hơi thở ông đã bắt đầu gấp hơn, quắc mắt ra lệnh:
– Từ bây giờ dù có nghe thấy gì cũng đừng trả lời nữa.
Nam cắn chặt răng.
– Nhưng nếu đúng là cô ấy thì sao?
Ông Cẩn nhìn thẳng vào nó.
– Người chết còn thương người sống thì chỉ đứng nhìn từ xa, chỉ có thứ không còn là người mới gọi tên cậu giữa đêm.
Nam lắc đầu liên tục.
– Không. Cháu nghe ra, đó đúng là Hương.
Ông Cẩn khẽ nhắm mắt, bất lực nói:
– Chính vì nó giống nên mới mê muội được cậu.
Câu nói ấy khiến cả tôi cũng lạnh sống lưng. Đúng lúc ấy lại một giọt nước rơi xuống nhưng lần này không còn rơi dưới đất mà rơi ngay lên mu bàn tay Nam. Nó khẽ chau mày, theo phản xạ đưa tay lau, lòng bàn tay lập tức đen sì giống như vừa quệt phải một vệt mực. Nam cau mày hỏi:
– Mực à?
Tôi cũng nhìn sang. Đó không phải mực, thứ nước ấy đặc hơn, đen hơn, lại còn có mùi tanh nhè nhẹ. Ông Cẩn nhìn thấy, sắc mặt ông lập tức thay đổi, ông lao tới chụp lấy cổ tay Nam rồi dùng ống tay áo chà thật mạnh. Cơ hàm Nam bỗng siết chặt, hai hàng lông mày nhíu lại, từng đường gân trên cổ nó nổi lên rõ mồn một. Nó không kêu lấy một tiếng, chỉ khàn giọng:
– Bỏng!
Tôi cúi xuống nhìn, chỗ da vừa bị nhuộm đen đang nổi lên từng đường chỉ rất nhỏ, chúng ngoằn ngoèo, mỏng như sợi tóc lại giống những mạch máu màu đen đang bò dưới da. Tôi còn chưa kịp hỏi ông Cẩn đã buông tay, khóe miệng ông khẽ run.
– Nó để lại dấu rồi...
Nam nhìn cổ tay, hỏi:
– Dấu gì?
Ông Cẩn không đáp, lần đầu tiên từ lúc chúng tôi bước vào, ông quay lưng bỏ đi rồi mở tung chiếc tủ gỗ, tay ông run đến mức làm rơi cả mấy chiếc hộp xuống nền. Căn phòng lại chìm vào im lặng, chỉ còn tiếng lục lọi và tiếng thở gấp. Tiếng nước vẫn tiếp tục rơi “tách… tách”, lần này không chỉ một chỗ mà vang lên khắp căn phòng. Chỗ bàn thờ, chỗ cửa ra vào, sau lưng tôi, sau lưng Nam, thậm chí ngay trong chiếc tủ gỗ ông Cẩn đang cúi tìm đồ cũng bắt đầu vang lên tiếng nước nhỏ. Ông Cẩn đột ngột khựng lại, ông từ từ ngẩng đầu, ánh mắt dừng ở một góc tối sau tủ. Nơi ấy không có ai nhưng khuôn mặt ông tái hẳn, ông khẽ lẩm bẩm.
– Nó… theo vào tận đây rồi.
Ông Cẩn đứng lặng rất lâu rồi như đã hạ quyết tâm, ông cúi xuống mở chiếc hòm gỗ vẫn đặt dưới chân bàn thờ, chiếc hòm không khóa mà chỉ buộc đúng ba vòng dây đỏ. Tôi nuốt khan hỏi:
– Bác Cẩn, trong đó là gì?
Ông Cẩn không trả lời, ông lấy từ trong hòm ra một quyển sách cũ. Bìa sách đen sì, bốn góc đã sờn, mặt ngoài không ghi tên mà chỉ có một dấu son hình bàn tay, năm ngón tay đều in rất rõ nhưng chỉ có bốn đốt, ngón út bị cụt mất. Ông đặt quyển sách lên bàn, nhẹ đến mức gần như không phát ra tiếng động rồi mới nhìn Nam.
– Muốn giữ mạng thì nhớ kỹ, từ giờ trở đi ta nói câu nào cậu làm đúng câu ấy.
Nam gật đầu ngay, ông Cẩn mở quyển sách. Bên trong không phải chữ in, toàn bộ đều viết tay bằng mực tàu, nét chữ đã cũ nhưng vẫn còn rất rõ. Ông lật vài trang, cuối cùng dừng lại ở một trang đã ố vàng. Ông đọc rất nhỏ:
– Người chết còn nhớ tên mình thì gọi là hồn.
Ông lật sang trang sau, đọc tiếp:
– Người chết chỉ còn nhớ kẻ mình hận thì gọi là quỷ.
Ông lại lật thêm một trang nữa, lần này ông không đọc tiếp, chỉ nhìn chằm chằm vào mấy dòng chữ, khuôn mặt mỗi lúc một nặng. Tôi tò mò hỏi:
– Ghi gì vậy bác?
Ông khép sách lại.
– Không phải cái gì cũng nên biết.
Tôi còn định hỏi, ông đã ngắt lời, nghiêm túc nói:
– Có ba điều hai cậu nhớ cho kỹ. Thứ nhất từ hôm nay trở đi, sau mười hai giờ đêm dù nghe ai gọi cũng không được đáp. Thứ hai nếu ngửi thấy mùi bồ kết tuyệt đối đừng đi tìm xem mùi đó từ đâu.
Tôi cau mày.
– Vì sao?
– Người sống tìm mùi, người chết tìm người. Cậu càng đi tìm nó càng biết cậu nhìn thấy nó.
Tôi bất giác rùng mình, ông nhìn sang Nam, rất lâu, lâu đến mức tôi có cảm giác ông đang cân nhắc có nên nói hay không. Cuối cùng ông vẫn nói:
– Điều cuối nếu một sáng ngủ dậy cậu thấy dưới chân giường có nước thì đừng bước xuống.
Nam nhíu mày.
– Chỉ vậy thôi?
Ông Cẩn lắc đầu.
– Không, lúc đó hãy chuẩn bị hậu sự.
Cả tôi và Nam cùng chết lặng, tôi cười gượng:
– Bác dọa bọn cháu à?
Ông Cẩn không cười. Đôi mắt già nua nhìn thẳng vào tôi, bình thản đến lạnh người.
– Cậu tưởng ta dọa hai cậu để kiếm miếng cơm à?
Ông Cẩn cất cây kim trở lại chiếc hộp gỗ, ông nhìn Nam rất lâu rồi khẽ lắc đầu:
– Đêm nay ta không cầm kim.
Nam chết sững.
– Vì sao?
Ông Cẩn vuốt nhẹ lên thân cây kim, ánh mắt vẫn không rời khỏi khoảng tối sau lưng Nam.
– Nghề này có một điều cấm, mũi kim đầu tiên chỉ được chạm vào người sống. Sau lưng cậu lúc này còn có kẻ khác đứng chờ.
Tôi bất giác thấy lạnh sống lưng, Nam cau mày.
– Cháu không hiểu.
Ông Cẩn cầm cây kim giơ lên trước ngọn đèn, đầu kim ánh lên một vệt sáng mỏng.
– Người ngoài chỉ nghĩ cây kim ăn mực nhưng dân trong nghề đều biết mực chỉ ăn da thịt, còn mũi kim đầu tiên sẽ nhận lấy hơi người, nó nhận nhầm thì cả hình xăm sau này đều sai.
Ông khép nắp hộp gỗ lại, nhìn về phía pho tượng trên bàn thờ khẽ lắc đầu thở dài:
– Nếu ta cầm kim lúc này thứ theo cậu suốt từ ngoài ngõ sẽ vào trước con quỷ ta định gọi.
Không khí trong phòng như đặc quánh lại, Nam siết chặt hai nắm tay.
– Bác sợ nó?
Ông Cẩn im lặng vài giây rồi cười rất nhạt.
– Thầy ta từng dặn nếu sau lưng khách còn có "khách" thì dù người đó mang cả gia tài tới thì cũng tuyệt đối không được cầm kim.
Nam bước lên, giọng bắt đầu mất bình tĩnh.
– Cháu tìm đến đây chỉ còn biết trông vào bác, giờ bác cũng từ chối?
Ông Cẩn lắc đầu.
– Không phải từ chối mà là chưa đến lúc.
Ông đi tới mở then cửa, cánh cửa vừa hé một luồng gió lạnh lập tức ùa vào. Mùi bồ kết cũng theo đó tan đi đôi chút. Ông đứng quay lưng về phía chúng tôi, khẽ cất giọng:
– Về đi, ba ngày nữa quay lại.
Nam định hỏi tiếp, ông Cẩn ngắt lời.
– Ba ngày này...
Vừa nói ông vừa nhìn cổ tay Nam.
– Nếu dấu kia không lan quá khuỷu tay ta còn cứu được. Lần tới nếu hai cậu vẫn bước được vào cánh cửa này ta sẽ cầm kim.
Ông Cẩn bước sang một bên cửa, ý đuổi khách đã quá rõ. Nam đứng lặng vài giây rồi cúi xuống cầm chiếc ba lô đặt dưới chân ghế, tôi cũng chẳng còn tâm trí đâu mà hỏi thêm, hai đứa lặng lẽ bước ra cửa. Ngay trước khi tôi đặt chân qua ngưỡng cửa, giọng ông Cẩn lại vang lên sau lưng.
– Khoan.
Cả hai cùng quay lại, ông Cẩn mở ngăn bàn, lấy ra hai cây kim xăm đã cũ. Thân kim xỉn màu theo năm tháng, riêng ở đuôi mỗi cây đều xỏ một sợi chỉ đỏ đã ngả sang màu nâu sẫm, như từng thấm rất nhiều mực. Ông đặt vào tay mỗi đứa một cây, tôi ngơ ngác hỏi:
– Cháu có biết xăm đâu, bác đưa bọn cháu cái này làm gì?
Ông Cẩn khép ngăn bàn lại, giọng đều đều:
– Cất trong túi áo, đừng để rời người.
Tôi xoay xoay cây kim trong tay, cười gượng.
– Nó để trừ tà hả bác?
Ông Cẩn lắc đầu, nhìn thẳng vào mắt tôi nói:
– Không, trên đời này chẳng có thứ gì trừ được quỷ, chỉ có thứ giúp người sống đừng lạc đường.
Tôi chưa kịp hiểu thì đã nghe thấy ông nói tiếp:
– Nếu một lúc nào đó hai cậu thấy đầu óc mê đi, không nhớ mình đang ở đâu, hoặc nghe thấy có người gọi rồi cứ vô thức bước theo...
Ông khẽ gõ ngón tay lên thân cây kim.
– Thì nắm chặt nó, nó sẽ đưa hai cậu tìm được đường về!
Nói xong ông đóng sập cánh cửa, tiếng then cửa cài đánh "cạch" một cái, con ngõ lại trở về yên tĩnh như chưa từng có ai sống ở đó.
Đêm Hà Nội đầu những năm 2000 vắng hơn bây giờ rất nhiều. Mười hai giờ hơn những dãy hàng quán ven đường gần như đã dọn hết, chỉ còn vài gánh ngô nướng đỏ lửa ở đầu phố, mấy chiếc xe Dream dựng trước quán nước chè và vài bác xe ôm ngồi ngáp ngắn ngáp dài đợi khách dưới gốc xà cừ. Đèn đường màu vàng hắt xuống mặt đường còn loang loáng nước sau cơn mưa chiều. Xa xa, một chuyến tàu đêm kéo còi từ phía ga Hàng Cỏ, âm thanh vọng qua những dãy phố cũ nghe dài và buồn đến lạ. Nam từ lúc bước ra khỏi tiệm không nói một câu, nó chỉ cúi đầu đi thật nhanh. Tôi phải chạy mấy bước mới theo kịp, cất tiếng hỏi nó trước:
– Mày tính thế nào?
Nó ngẩng lên nhìn khoảng trời đen đặc giữa hai dãy nhà, tiếng đáp rất nhỏ:
– Chờ ba ngày, nếu ba ngày nữa ông ấy vẫn không chịu xăm tao sẽ tìm người khác.
Tôi định khuyên nhưng nhìn khuôn mặt của nó, tôi biết có nói gì cũng vô ích. Chiếc Dream cũ dựng đúng chỗ ban đầu, yên xe vẫn còn ướt nước mưa nhưng trên mặt yên lại có một dấu tay rất rõ, nhỏ, mảnh, giống hệt bàn tay con gái. Năm ngón tay in thành vệt nước sẫm màu, như vừa có người ngồi đó chưa lâu. Tôi giật mình kéo áo thằng Nam:
– Nam...
Nó quay sang.
– Gì?
Tôi chỉ lên yên xe, hỏi:
– Có ai vừa ngồi xe mình à?
Nam nhìn theo, vẻ mặt nó thoáng khựng lại nhưng chỉ vài giây sau nó đưa tay quệt mạnh, vệt nước lập tức biến mất., vẻ mặt thờ ơ đáp:
– Chắc trẻ con nghịch thôi.
Nó nói vậy nhưng cả hai đều biết con ngõ ấy từ nãy đến giờ không hề có một đứa trẻ nào. Đường từ phố cổ về khu trọ ở Cầu Giấy mất gần nửa tiếng, xe chạy qua hồ Thiền Quang, qua Kim Mã, qua những dãy tập thể cũ kỹ còn sáng lác đác vài ô cửa sổ. Lúc đi ngang một quán nước ven đường, chiếc radio cũ đặt trên bàn vẫn rè rè phát bản tin cuối ngày.
"Dự báo thời tiết Hà Nội đêm nay trời rét, có mưa vài nơi…"
Đúng lúc hai đứa đi qua, chiếc radio bỗng nhiễu một tiếng “xẹt, xẹt" rồi giữa những tiếng rè ấy, hình như có một người con gái khẽ cười. Tôi ngoái nhìn,bà bán nước vẫn ngồi phe phẩy quạt nan như không hề nghe thấy gì…
...
Lúc xe dừng trước khu nhà trọ, đồng hồ ở cổng vừa điểm đúng mười hai giờ ba mươi phút. Bà chủ trọ chắc vừa nghe tiếng xe nên hé cửa bước ra. Bà vẫn khoác chiếc áo bông hoa đã cũ, hai bàn tay chà vào nhau vì rét, trên vai còn vắt chiếc khăn len bạc màu, chân đi đôi dép nhựa lê trên nền gạch nghe loẹt quẹt. Vừa nhìn thấy chúng tôi, bà như thở phào nhẹ nhõm.
– Về rồi à? May quá.
Nam dắt xe vào sân, khẽ đáp:
– Dạ.
Bà chủ nhìn quanh như tìm ai đó rồi mới bước lại gần, hạ giọng hỏi:
– Ủa... con bé đâu?
Nam ngẩng lên.
– Con bé nào hả bác?
Bà chủ thoáng ngơ ngác.
– Thì người yêu cậu chứ ai.
Gương mặt Nam lập tức cứng lại, nó nhìn bà không chớp mắt.
– Người yêu cháu?
– Ừ.
Bà cười hiền.
– Con bé Hương ấy, đẹp thế sao bác nhớ nhầm được.
Gió đêm vừa lúc ấy thổi dọc hành lang, mấy tờ biên lai trong tay bà chủ khẽ lật phành phạch. Không hiểu sao tôi lại thấy sống lưng mình lạnh đi, Nam vẫn đứng bất động, bàn tay đang cầm chìa khóa xe siết chặt đến trắng bệch. Nó nuốt khan một cái, mãi một lúc sau mới hỏi tiếp:
– Bác vừa gặp Hương thật ạ?

